Showing posts with label Nghị luận văn học. Show all posts
Showing posts with label Nghị luận văn học. Show all posts

Friday, July 6, 2012

Phân tích vẻ đẹp lãng mạn – trữ tình trong “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu

Phân tích vẻ đẹp lãng mạn – trữ tình trong “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu.

* Bài làm
I. “Mảnh trăng cuối rừng” là truyện ngắn hay nhất của Nguyễn Minh Châu trong những năm chống Mỹ. Truyện khá tiêu biểu cho những đặc điểm bút pháp của nhà văn trong giai đoạn trước 1975 và cũng mang những đặc điểm chung của văn học ta giai đoạn ấy. Truyện ngắn này đã được đưa vào nhiều tuyển tập truyện ngắn Việt Nam, đã được nhà nghiên cứu N. I. Nicolin (Nga) giới thiệu trong bài “Cuộc chiến tranh giải phóng và truyện ngắn Việt Nam hiện đại” (Tạp chí các dân tộc Á-Phi, tháng 4 năm 1973)

II.
1/ Phân tích truyện ngắn này cần lưu ý đến tình huống truyện, đây là một thành công của nghệ thuật truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng”
Truyện kể về một cuộc gặp gỡ của một người lái xe quân sự với một cô công nhân giao thông đi nhờ xe anh trên đoạn đường chiến tranh. Điều ngẫu nhiên lý thú là cô gái ấy chính là người đã đính ước vắng mặt với anh (qua sự giới thiệu của người chị gái của anh ở cùng đội với cô). Hai người đang đi đến chỗ hẹn để gặp nhau. Nhưng vốn họ chưa một lần gặp nhau, nên qua câu chuyện, người lái xe chỉ có thể phỏng đoán rằng cô gái là người đã hẹn ước với mình. Suốt dọc đường, trải qua nhiều khó khăn nguy hiểm. Cô gái đã bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp, làm thay đổi sự nhìn nhận về cô của người lái xe. Họ không gặp được nhau ở chỗ hẹn vì những trắc trở của chiến tranh, nhưng cô gái đã để lại những tình cảm sâu sắc và niềm hạnh phúc cho chàng trai.
Tình huống truyện mang tính ngẫu nhiên, nhưng sự sắp đặt của tác giả khá tự nhiên, không giả tạo. Cái ngẫu nhiên ở đây cũng mang tính quy luật: trong chiến tranh từng có biết bao tình huống lạ lùng, những cuộc gặp gỡ bất ngờ. Hơn nữa, các tình tiết xếp đặt của tác giả đều khá hợp lý (về nguyên do của những cuộc gặp gỡ: bức thư của người chị, chuyến đi công tác kết hợp việc riêng của anh lái xe). Tác giả cũng giữ cho người đọc và người kể chuyện ở trong tâm trạng phấp phỏng, dự đoán không biết rõ ràng cô gái đi nhờ xe có phải là người đã đính ước không. Có một khả năng diễn biến câu chuyện có thể phá vỡ sự “mơ hồ” ấy, nhưng nó đã được loại bỏ đúng với quy luật tâm lý (người lái xe chỉ cần hỏi về chị Tính là có thể rõ mọi chuyện, nhưng anh không dám và cũng không muốn hỏi điều đó, chưa muốn để cô gái biết rõ về mình). Chính tình trạng có vẻ mơ hồ không rõ ràng ấy lại là cái hấp dẫn riêng của câu chuyện thêm nữa, trong hoàn cảnh ấy, nữ nhân vật chính có thể bộc lộ tự nhiên về mình.

2/ Phân tích nhân vật trung tâm: Cô Nguyệt, nhân vật này được miêu tả qua sự quan sát, nhận xét và lời kể của nhân vật người lái xe (người kể chuyện), và hiện ra theo hành trình của chuyến đi. Vì vậy phân tích nhân vật Nguyệt nên theo trình tự cốt truyện và trong mối quan hệ với cách nhìn nhận của nhân vật kể chuyện.
Đầu tiên, cô gái xuất hiện trong xe để đi nhờ đặt anh lái xe vào tình thế “việc đã rồi” (người phụ lái đã nhận cho cô gái đi nhờ). Người lái xe đã hình dung ra một cảnh tượng quen thuộc với một thái độ không mấy thiện cảm: “một bên là cái vẻ nũng nịu của một cô nàng ôm chiếc nón trắng đứng sát cửa xe, một bên là những câu hỏi ỡm ờ của “anh tài phụ”… đang ngồi vắt vẻo trong buồng lái…”. Tiếp đó, cô gái xuất hiện qua những lời đối thoại đã khiến người lái xe “phát hoảng lên” “vì cái cách con gái ăn nói đối đáp bạo dạn nhường ấy”, nhưng anh vẫn nhận ra “tiếng nói trong lắm và rất bình tĩnh, cứng cỏi nữa là khác”.
Đến đây, mạch truyện chính tạm dừng lại để tác giả kể câu chuyện của người lái xe với một cô công nhân đã tự nguyện ước hẹn với anh. Mạch truyện này gợi cho người đọc nghĩ đến sự trùng hợp của hai câu chuyện tạo ra sự chú ý, phỏng đoán về cô gái đi nhờ xe. Theo từng chặng đường của cuộc hành trình, cô gái dần dần bộc lộ những nét phẩm chất tính cách cao đẹp. Cô gái hiện ra với vẻ đẹp giản dị và mát mẻ “như sương núi tỏa ra từ nét mặt, lời nói và tấm thân mảnh dẻ, khác hẳn với nhiều cô gái công trường thường cô nào cũng thấp và đẫy đà”, đã gây được sự chú ý với nhiều thiện cảm của người lái xe. Khi biết tên cô là Nguyệt, người đọc (và nhân vật kể truyện) liên tưởng đến người con gái đã ước hẹn với anh lái xe. Nhưng tác giả đã dùng một chi tiết tạo ra sự mơ hồ không thể khẳng định, để người đọc tiếp tục phỏng đoán và chờ đợi giải đáp rõ ràng (chi tiết có ba cô Nguyệt ở trong đội công nhânm trong đó một cô vừa hy sinh). Từ đây, thái độ của người lái xe với Nguyệt đã chuyển biến rõ rệt.
Cần chú ý là từ đây, xuất hiện hình tượng ánh trăng trên con đường rừng đêm như sóng đôi với hình ảnh cô Nguyệt: “Từ đầu hôm, tôi vẫn đi giữa đêm trăng mà không biết”, “Xe tôi chạy trong lớp sương bồng bềnh. Mảnh trăng khuyết đứng yên ở cuối trời, sáng trong như mảnh bạc. Khung cửa xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng”, “Trăng sáng soi thẳng vào khuôn mặt Nguyệt làm cho khuôn mặt tươi mát ngời lên và đẹp lạ thường”… có thể nói ánh trăng như một phần của hình ảnh cô Nguyệt làm nhân vật này mang một vẻ đẹp vừa tươi mát, dịu dàng vừa kì ảo, lung linh.
Ở phần sau của truyện, khi chiếc xe gặp nhiều thử thách trên đường (đường đi ngày càng xấu, đen tối, qua ngầm, máy bay địch ném bom tọa độ) thì nhân vật Nguyệt càng bộc lộ phẩm chất và tính cách cao đẹp. Cô chủ động, bình tĩnh, tự tin và dày dạn kinh nghiệm xử lý các tình huống khó khăn, quên mình để cứu xe, giành phần nguy hiểm về mình, nhường chỗ an toàn hơn cho anh lái xe. Trong ánh chớp của lửa của đạn bom, hình ảnh Nguyệt hiện ra thật rạng rỡ, cao cả. Ở phần kết thúc truyện, khi người lái xe biết chắc chắn cô gái đi nhờ xe chính là người con gái đã đính ước với mình thì hình ảnh Nguyệt càng đẹp hơn trong một nét phẩm chất: tình yêu thuỷ chung và niềm tin trong sáng vào cuộc sống, khiến người kể chuyện xúc động đến ngỡ ngàng: “Trong tâm hồn người con gái nhỏ bé, tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn dội xuống cũng không hề dứt, không thể nào tàn phá nổi ư?”.
Nhân vật Nguyệt đang xây dựng theo cách ngày càng bộc lộ những nét phẩm chất cao đẹp và cuối cùng hiện ra trong vẻ đẹp toàn vẹn, cùng với quá trình ấy sự biến chuyển trong thái độ tình cảm của nhân vật kể chuyện về cô.

3/ Chất trữ tình và màu sắc lãng mạn là đặc điểm nổi bật của truyện ngắn này. Đó vừa là một ưu điểm đồng thời cũng là một nhược điểm của truyện. Chủ đề tình yêu chung thuỷ hòa nhập với chủ đề về chiến công anh hùng. Các nhân vật đều bộc lộ những phẩm chất cao quý, những suy nghĩ trong sáng, niềm tin vào cuộc sống, những phẩm chất mang tính lý tưởng. Nhà nghiên cứu văn học N.I.Nicolin đã có nhận xét về truyện ngắn này: “Nhà văn thời ấy đã khá triệt để trong việc thi vị hóa nhân vật. Đây vừa là chỗ mạnh của anh vừa là chỗ yếu: niềm tin vào chất bất khả chiến thắng của cái đẹp tinh thần, của cái thiện đã được khúc xạ ở chỗ anh đã “tắm rửa sạch sẽ” các nhân vật của mình, họ giống như được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng”. (Lời bạ tập truyện Người đàn bà trong chuyến tàu tốc hành dịch sang tiếng Nga – NXB Cầu vồng, M.1987).
Chất trữ tình cũng bộc lộ trong những bức tranh thiên nhiên, đặc biệt là hình tượng ánh trăng mang vẻ đẹp lãng mạn được trở đi trở lại như một nét chủ đạo tạo ra một màu sắc riêng cho không gian của câu chuyện mang vẻ huyền ảo, trong đó các nhân vật hiện ra với vẻ đẹp hoàn thiện. Hình tượng ánh trăng như một mô típ chủ đạo, có quan hệ mật thiết với nhân vật chính và tên của nhân vật (Nguyệt ) từ đó chúng ta hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của tên tác phẩm: Mảnh trăng cuối rừng

ST

Ý nghĩa của nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu



Bài viết liên quan
+++++++++++
Hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa được cảm nhận qua con mắt người nghệ sĩ như thế nào


 Ý nghĩa của nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Chiếc thuyền ngoài xa” là nhan đề một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, trước in trong tập Bến quê (1985), sau được dùng đặt tên cho cả tập truyện ngắn gồm 15 truyện do nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987. Thiên truyện được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học lớp 12 phổ thông, cả ban khoa học xã hội – nhân văn lẫn ban cơ bản. Đặt vấn đề tìm hiểu ý nghĩa nhan đề một truyện ngắn hoàn toàn không phải là một cái gì mới mẻ bởi lẽ sự hoàn chỉnh về nội dung được thể hiện ngay trong ý nghĩa mà đầu đề văn bản chỉ ra, đặc biệt là với các văn bản nghệ thuật vốn thường mang những nhan đề hàm ẩn. Vậy nhan đề ấy - Chiếc thuyền ngoài xa- có ý nghĩa như thế nào?

Những nhan đề loại này đòi hỏi người tiếp nhận phải suy nghĩ, liên tưởng mới có thể hiểu được ý nghĩa của chúng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người cho rằng nhan đề là nội dung cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản.

Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu có vinh dự là người “ thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất” ( Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học sau 1975. Trong nhà trường, hai tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã được đưa bộ sách cải cách trước đây ( Bức tranh ở cấp trung học cơ sở và Mảnh trăng cuối rừng ở cấp trung học phổ thông) và lần thay sách này, giáo viên và học sinh lại được tiếp cận hai tác phẩm khác- Bến quê ở cấp trung học cơ sở và Chiếc thuyền ngoài xa ở trung học phổ thông.

Hầu như các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông đều mang những nhan đề vừa cụ thể  lại vừa có ý nghĩa biểu tượng. Nếu như Mảnh trăng cuối rừng vừa là một hình ảnh thực được miêu tả trong truyện và trở đi trở lại nhiều lần, thành hình ảnh nổi bật và bao trùm toàn bộ khung cảnh của câu chuyện, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho nữ nhân vật chính- Nguyệt thì “ Chiếc thuyền ngoài xa” cũng có phần giống như thế


1- Chiếc thuyền ngoài xa là chiếc thuyền thực hay chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật?

Truyện gồm 5 phần. Phần đầu nói về chiếc thuyền thực tại một vùng đầm phá ven biển miền Trung và phần cuối hoàn toàn nói về chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật, một trong 12 cảnh tĩnh vật thể hiện chủ đề thuyền và biển cho một cuốn lịch năm mới.

Phần vào chuyện kể trọn vẹn sự cần thiết phải có bức ảnh. Nguyên là người trưởng phòng của nhân vật “ tôi” ( tên là Phùng - nhân vật người kể chuyện) “là người sâu sắc , lại cũng lắm sáng kiến”, anh ta đã đề xuất yêu cầu “ Phải có một bộ sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật”. Suốt năm tháng ròng làm việc khá thông đồng bén giọt, tổ nhiếp ảnh nghệ thuật đã mang về không biết cơ man nào là ảnh nhưng cũng chỉ có 11 bức được lọt vào cặp mắt xanh của viên trưởng phòng “ sâu sắc nước đời”. Một bức ảnh thiếu hụt oái oăm kia được trưởng phòng tin cẩn giao cho “ tôi” phải săn tìm cho được. Mà là tấm ảnh chụp có “ sương biển” giữa mùa tháng bảy – dường như thường “ chỉ có bão táp với biển động”. Thật là một vụ gieo trồng trái thời vụ vì “tôi” quá biết “ Muốn lấy sương thì phải nghĩ đến từ tháng ba cơ!”.

Nhưng rồi “ khi nên trời cũng chiều người”, “ tôi” đã trở lại vùng biển chiến trường xưa, cách Hà Nội sáu trăm cây số” và vác máy nằm “phục kích” ở chính cái nơi mà “ dường như trong suốt dải bờ biển khắp cả nước, chỉ ở đây vào giữa tháng bảy là còn sương mù”. Đây cũng còn là quê của một đồng đội cũ của “ tôi”, giờ đang là Chánh án toàn án huyện. Thật là gồm đủ thiên thời , địa lợi , nhân hoà”. Và “ tôi” đã bỏ qua nhiều cảnh có ‘ không khí vui nhộn hơi thô lỗ và thật hùng tráng” để chớp lấy cái khoảnh khắc “ đắt” trời cho”. Đó là cảnh “ trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn và trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ…”. Nhà nghệ sĩ dạt dào một cảm hứng nghệ thuật, trải qua một khoảnh khắc yên-sĩ –phi –lí thuần tuyệt diệu: “ toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và tòan bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? (…) . Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.”. Và tuyệt tác đã ra đời trong sự hưng phấn nghệ thuật - “ cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”. Rất cần chú ý thành phần phụ chú “ do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” trong lời kể chuyện. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền giữa biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mĩ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời

Như thế , xét riêng về công vụ, nhiệm vụ của “tôi” lúc này đã hoàn thành. “Tôi” đã có cảnh thuyền và biển trong sương đúng như đặt hàng của trưởng phòng, mặc dù giữa mùa tháng bảy! Và ‘ tôi” đã có thể ung dung “ nhảy lên tàu hoả trở về”. Nếu khéo liên hệ một tí, ta dễ thấy nếu như “ tôi” về ngay lúc đó khác nào cô Nguyệt ( trong Mảnh trăng cuối rừng) xuống xe ở cầu Đá Xanh.

Phần đầu truyện như thế đủ cho người đọc biết xuất xứ của bức ảnh nghệ thuật đặc sắc trên cuốn lịch năm mới kia ra đời thế nào. Và nếu nghĩ sâu xa hơn thì cũng cần bấy nhiêu ấy cũng đủ cho bộ môn lí luận nghệ thuật khái quát về công phu lao động của nghệ sĩ.

Phần kết truyện cho biết người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh và bức ảnh không chỉ có tuổi thọ ngang với một cuốn lịch năm mà “mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”. Mở và kết truyện như vậy cho thấy, chiếc thuyền trong “ chiếc thuyền ngoài xa” là chiếc thuyền vừa có thực trong đời , vừa là chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật và nó cũng chính là một chi tiết nghệ thuật đắt, không dễ trong đời cầm máy “ tôi” đã có được may mắn thứ hai.


2- Tại sao lại là “chiếc thuyền ngoài xa” ?

Theo dòng kể của ‘ tôi” rõ ràng chiếc thuyền được chụp trong một cự li tương đối gần – “ một chiếc thuyền lưới vó…đang chèo thẳng vào trước mặt tôi”- nhà nghệ sĩ nhìn rõ cả “những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó”. Người thưởng thức bức ảnh thông thường chắc không ai không cảm nhận chiếc thuyền đang được chụp trong một cự li gần như thế . Thế nhưng vì sao tác giả lại đặt nhan đề truyện là “ chiếc thuyền ngoài xa”?

Trở lại luận điểm ban đầu về đầu đề văn bản : Nhan đề là nội dung cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản. Nếu như nhan đề chỉ đơn thuần phản ánh các đối tượng thì hẳn chiếc thuyền trong ảnh không phải là ngoài xa ! Phải chăng nhan đề đó phản ánh cách nhìn của tác giả đối với đối tượng.

Thật vậy, theo yêu cầu của trưởng phòng , bức ảnh phải săn tìm lần này “Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật” nhưng bức ảnh chụp được lại có ‘ vài bóng người lớn lẫn trẻ con”. Như không sao, dù có người thì người cũng chỉ “ ngồi im phăng phắc như tượng”!

Điều đáng nói là bức ảnh như thế đã ghi nhận được cái gì? Quả là một bức ảnh đẹp được chụp từ một cự li khá gần nhưng cái cách tiếp cận “ thực tế”, tiếp cận “ nguyên mẫu” như thế là cách tiếp cận từ xa vì nhà nghệ sĩ chỉ thu được cái hình hài bên ngoài , cái thơ mộng bên ngoài của cảnh và người. Bởi vì ngay sau khi nhà nghệ sĩ “ săn tìm” được cái đẹp trong cuộc đời để sáng tạo ra cái đẹp nghệ thuật kia, thì anh ta đã phải chứng kiến một cảnh đời cay cực, ngang trái mà không một người bình thường nào có thể ngoảnh mặt làm ngơ , nói chi đến nghệ sĩ vốn được coi là những con người đa cảm, đa mang!

Là nghệ sĩ và đã từng là một người lính , chứng kiến cảnh thằng con – Phác- vì thương mẹ mà đánh lại cha, khi thì bằng chính chiếc thắt lưng của lính nguỵ mà người cha của nó dùng để đánh mẹ nó , khi thì định dùng cả “ám khí” là một con dao găm lận ‘ trong cạp quần đùi”, “ tôi” đã không khoanh tay ngồi nhìn vì “ bất luận trong hoàn cảnh nào, tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo chio hắn đánh” . Và hậu quả là ‘ tôi” đã bị thương vì người chồng kia chống trả quyết liệt để tự vệ. Vậy cái cảnh thơ mộng đẹp đẽ mà “ tôi” thu được vào ống kính Pratica và cái cái cảnh đời ngang trái mà trong tư cách cựu chiến binh “ tôi” đã chứng kiến và tham dự cái nào cận nhân tình hơn? Do đó ảnh chụp chiếc thuyền thơ mộng kia chẳng phải là kết quả của lối tiếp cận hiện thực từ xa ư? Chiếc thuyền ngoài xa được chụp trong cự li gần là với ý nghĩa như vậy đó!

Chưa hết, do dưỡng thương và nể bạn nên “ tôi” nán lại thêm mấy hôm và chính lần này “ tôi” mới vỡ ra mọi lẽ. Chứng kiến buổi làm việc giữa Đẩu – người đồng đội cũ của “ tôi” , giờ là Chánh án toàn án huyện- và người phụ nữ khốn khổ kia , ‘ tôi mới vỡ ra nhiều lẽ . Thì ra nếu chiếc thuyền chụp được là “ từ xa” thì cái cảnh “ tôi” chứng kiến cũng chỉ là bề nổi của cuộc đời gia đình nhà chài nọ. Vì sao người phụ nữ phải cam chịu một bề, không chống trả những trận “đòn chồng” và cũng không chịu li dị, hiểu theo nghĩa nào đó là không chịu “ giải phóng” mình. Cái lí do chị đưa ra đã đưa hai người cựu chiến binh tốt bụng – một là một nghệ sĩ, một được mệnh danh là một Bao công- đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác:

-“ Chị cảm ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu cái việc của các người làm ăn lam lũ , khó nhọc…”

- “ Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão ách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu. giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”

- “ Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông …Cũng có khi biển động sóng gió chứ?”.

- ‘ Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó- vả lại, ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ”.

Cái vòng luẩn quẩn của những kiếp người cần lao quả thật đầy bất ngờ đối với “ tôi”, vốn đã trải qua mấy năm chiến đấu tại mảnh đất này, đã giải phóng mảnh đất này và hiện đang là nhà báo từng dong ruổi nhiều nơi! Và “ tôi” cũng nhận ra rằng vì sao ông lão ( cha người phụ nữ) làm nghề sơn tràng “ ở tận trên miền rừng A So” và thằng cháú ngoại lại hay xuất hiện ở miệt biển này và tại sao trong buổi sáng chia tay “ tôi” ông lão luôn “đặt hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền”. Vậy , với tất cả những điều ấy, “chiếc thuyền nghệ thuật” của “tôi” nói được cái gì cận nhân tình chưa hay cũng chỉ là “ chiếc thuyền ngoài xa”? Nhan đề ấy phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng.

Tóm lại, qua thiên truyện và cách đặt tên nhan đề, ta thấy nhân vật “ tôi” vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn với những gì ống kính của mình đã thu được. Đằng sau bức ảnh chiếc thuyền thơ mộng ấy còn là những cuộc đời , những con người lầm lụi, khốn khổ đến quẫn trí và giải toả cái quẫn trí ấy bằng những giải pháp hết sức kì quặc. Bức ảnh “thuyền và biển” kia đã nói được gì đâu. Và đó là cách để nhà văn Nguyễn Minh Châu bộc lộ thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực ở bề sâu ẩn kín chứa đầy những nghịch lí , mâu thuẫn của đời sống hậu chiến tranh và đó cũng là đặc điểm nổi bật mới mẻ của phong cách Nguyễn Minh Châu, người tiên phong tinh tường và tài ba trên hành trình đổi mới văn học nước nhà. Có thể hiểu “ Con thuyền ngoài xa” là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống. Chính khát vọng muốn tìm đến cái đẹp, cái hài hoà, muốn làm cho con người hạnh phúc nhiều khi đã đưa người ta đến chỗ giản đơn hoá không nhận ra cái thực tế khắc nghiệt thì suy cho cùng cũng chỉ là một kiểu “ lướt nhẹ trên bề mặt cuộc sống” chứ đâu đã là thứ nghệ thuật “ là tiếng đau khổ…thoát ra từ những kiếp lầm than” ( Nam Cao- Trăng sáng).

Từ đó, có thể phát hiện ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa: Khi con thuyền là đối tượng của nghệ thuật thì có thể được chiếm lĩnh từ xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, nhưng sự thực cuộc đời cần phải được chiếm lĩnh ở cự li gần. Đừng vì nghệ thuật thuần tuý mà bỏ quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu ghét , vui buồn trước cuộc đời, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người . Với ý nghĩa ấy, phần nào gợi ra những liên tưởng tương đồng với truyện “ Trăng sáng” của nhà văn Nam Cao./.

Trích từ :Đinh Hà Triều

Phân tích nhân vật Phùng trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa



Phân tích nhân vật Phùng trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa

Bài viết liên quan
+++++++++++

I . Mở bài 


    Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất của văn học ta hiện nay . Ông đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông . Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Phùng , một nghệ sĩ khao khát khám phá , sáng tạo ra cái đẹp , người luôn lo lắng , trăn trở , suy tư về nhân cách và đời sống con người . 

II . Thân bài .

Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới , cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái , nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn . Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).

Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Phùng đi tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và toàn bích. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một đôi vợ chồng hàng chài , lão đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con lão che chở người mẹ đáng thương. Ba hôm sau, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cô chị gái tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động độc ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện. Ở đây, anh đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao cảm thông và ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Anh hiểu :không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời.

Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. 

    Phùng trong truyện vừa là nhân vật chính đồng thời lại là người kể chuyện . Mọi diễn biến của tác phẩm đều được soi chiếu qua lời kể và suy nghĩ của anh . Trong tác phẩm , Phùng đã có những phát hiện quan trọng về cuộc sống và nghệ thuật . 

Trước hết là nhận thức của Phùng về cái đẹp của nghệ thuật . Phùng đang đứng trước cảnh biển sớm khi mặt trời mới thức dậy qua đám mây ánh hồng .Phùng bộc lộ rung động trước “ Một cảnh đắt trời cho” mà “ suốt đời cầm máy chưa bao giờ thấy” . Nó đẹp “ như bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” Cảnh đó được nhìn từ xa nên “ Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào” . Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua đôi mắt của người nghệ sĩ .Anh khẳng định “ toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp ,một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích” .Phùng thực sự rung động “ Đứng trước nó tôi trở nên bối rối .Trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào” và “ phát hiện ra khoảnh khắc trắng ngần của tâm hồn” . Phùng là một nghệ sĩ trên đường săn tìm cái đẹp .Anh thực sự biết quan sát lựa chọn cái đẹp của thiên nhiên ,cảnh vật ,con người .Sự rung động của người nghệ sĩ đã đến đúng lúc .Sự rung động thực sự khi đứng trước cái đẹp .Cái đẹp tự nhiên “ đắt giá” , “trời cho” ,mới thực sự làm rung động lòng người . Từ đây , ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời . Phùng còn nhận ra trong suy nghĩ của mình “ chẳng biết ai đó lần đầu phát hiện ra bản thân cái đẹp là đạo đức”.Đó là cái đẹp phải kết hợp với cái tâm ,cái tài kết hợp với cái thiện .

Nhận thức thứ 2 của Phùng là về bạo lực gia đình . Từ chiếc thuyền đẹp như mơ , Phùng thấy bước ra một đôi vợ chồng làng chài mệt mỏi , xấu xí , thô kệch .. “ Người đàn bà đứng lại , đưa cặp mắt nhìn xuống chân” . “ Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ ,mặt đỏ gay ,lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái thắt lưng quật tới tấp lên lưng người đàn bà , lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng ngiến vào nhau ken két .Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn “ Mày chết đi cho ông nhờ .Chúng mày chết đi cho ông nhờ” . “ Người đàn bà có vẻ cam chịu nhẫn nhục không hề kêu một tiếng ,không chống trả ,cũng không tìm cách trốn chạy . Bạo lực trong gia đình thuyền chài ấy diễn ra thường xuyên “ Ba ngày một trận nhẹ ,năm ngày một trận nặng”. Bạo lực gia đình là vấn đề tồn tại trong xã hội .Bước sang thế kỉ XXI chúng ta vẫn chưa dứt điểm được .ở đâu có bạo lực gia đình thì nạn nhân của nó là người vợ ,người mẹ và những đứa con tội nghiệp .Bạo lực là dấu hiệu của sự đau khổ ,rạn nứt của hạnh phúc gia đình .Nó làm tổn thương bao mối quan hệ của đời sống tình cảm con người 

Bạo lực gia đình lại diễn ra ngay sau chiếc xe dò phá mìn của mĩ trên bãi cát .Phải chăng cuộc chiến đầu giành độc lập tự do ta đã giải quyết được trọn vẹn ,mang lại niềm vui cho mọi người . Nhưng sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng còn biết bao vấn đề đặt ra : Đói kém ,bệnh tật ,bạo lực gia đình … 

    Từ sự thật phũ phàng trên bãi biển về chiếc thuyền đánh ca đẹp như mơ , nghệ sĩ Phùng đã dần dần vỡ ra bao điều về cuộc sống của những người dân chài lưới . Biết bao cảnh đời cứ phơi bày ra trước mắt : Một người đàn bà trạc ngoài bốn mươi , cao lớn với những đường nét thô kệch . Mụ rỗ mặt . Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới , tái ngắt và dường như đang buồn ngủ . Người đàn ông đi sau . Tấm lưng rộng và cong như một con thuyền . Mái tóc tổ quạ .Lão đi chân chữ bát ,hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ. Cặp vợ chồng làng chài là nạn nhân của cái nghèo khổ , vất vả lao động cật lực mà vẫn ngặt nghèo vì miếng cơm manh áo vì đông con . Người đàn bà thú nhận : “ giá tôi đẻ ít và chúng tôi sắm được cái thuyền rộng hơn” .Thì ra đẻ nhiều ,thuyền nào cũng từ mười đến hơn mười đứa .Đây là nguyên nhân của sự đói nghèo . Rồi thiên tai , trời làm động biển “ vợ chồng con cái phải ăn xương rồng chấm muối” Cái lí ở đời “ ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn ,cho nên phải gánh lấy cái khổ .Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống như mình trên đất được” . Do con người, do thiên tai do cái lẽ ở đời đã ăn sâu ,bám bám rễ hàng ngàn đời nay mà người đàn bà phải chịu đau khổ .Người đàn ông vì vất vả cực nhọc ,không biết đổ cái bực tức , uất ức vào đâu , chỉ còn biết trút lên người vợ .

Cậu bé Phác thương mẹ nhưng hành động liều lĩnh, thiếu suy nghĩ. Nó chỉ nghĩ thương mẹ bị đánh mà sẵn sàng bỏ quên tình phụ tử. Xét cho cùng, Phác cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Cứ xem cử chỉ của nó thì thấy: “ Cái thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt”. Hành động nhất thời của Phác “ Như viên đạn” bắn vào người bố và lúc này “ đang xuyên qua tâm hồn” người mẹ .Tình cảnh thật đau lòng . Làm thế nào để xoá đi những chuyện đau lòng trong gia đình này . 

    Phùng còn có nhận thức về cách giải quyết tấn bi kịch gia đình . Cách giải quyết của chánh án toà án huyện là : Gọi người đàn bà tới cơ quan và nói bằng giọng giận dữ: “ Chị không sống nổi với lão vũ phu ấy đâu” Cách giải quyết này tuy đứng về phía người đàn bà nhưng thiếu thực tế. Đáng lẽ phải tìm hiểu nguyên nhân, phân tích cụ thể, nắm bắt yêu cầu nguyện vọng. Cách giải quyết này thực sự chưa ổn. Không thể áp dụng lí thuyết sách vở mà phải căn cứ vào thực tế đời sống. Cách gợi ý của Đâủ làm cho căn phòng “ lồng lộng gió biển tự nhiên bị hút hết không khí trở nên ngột ngạt”. Cảm giác của Phùng thấy như vậy. Pháp luật phải gắn liền với đạo đức, không thể áp dụng tuỳ tiện. Giải quyết li hôn càng làm cho gia đình rạn nứt và tan vỡ. Những đứa con rồi sẽ ra sao ? Những người làm ăn lam lũ khó nhọc ra khơi vào lộng cần phải có bàn tay của người đàn ông. Người đàn ông là trụ cột trong nhà .

Cuối truyện Đẩu đi gặp người đàn ông . Phùng đi gặp thằng Phác . Kết quả như thế nào , tác giả còn bỏ ngỏ . Chỉ biết bức ảnh anh chụp có chiếc thuyền lưới vó và suy nghĩ của Phùng “ bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh ,đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với đường nét thô kệch ,tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá ,nửa thân dưới ướt sũng ,khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm” .Phải chăng đây là sự trăn trở trước cuộc sống còn nhiều điều khó khăn , vất vả của người làm nghệ thuật . Đó là mối quan hệ giữa văn chương với cuộc đời .

III . Kết bài .

    Truyện Chiếc thuyền ngoài xa qua những phát hiện của Phùng về vẻ đẹp của thiên nhiên , về sự thật cay đắng , đầy bi kịch , nghèo khổ của những con người lao động bằng nghề chài lưới , đã bộc lộ những lo lắng , trăn trở của nhà văn về nhân cách , đời sống con người , bộc lộ lòng thương cảm , trắc ẩn , trân trọng những vẻ đẹp trong tâm hồn người dân lao động . Truyện đậm chất tự sự , triết lý , tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu . 

(Sưu tầm)

Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài



Bài viết liên quan
+++++++++++
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài


I . Mở bài 
    
Nguyễn Minh Châu là nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất của văn học ta hiện nay . Ông đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông . Truyện đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài , một người lao động lam lũ , bất hạnh , trải đời và sáng đẹp tình yêu thương , đức hi sinh , vị tha . 

II. Thân bài . 

Truyện Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Truyện ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang dần đổi mới , cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái , nhiều tồn tại khiến người ta phải băn khoăn . Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987).

     Mọi diễn biến của tác phẩm đều được soi chiếu qua lời kể và suy nghĩ của nhân vật Phùng . Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, Phùng đi tới một vùng biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Phùng đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và toàn bích. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một đôi vợ chồng hàng chài , lão đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình. Thằng Phác, con lão che chở người mẹ đáng thương. Phùng xông ra buộc lão phải chấm dứt hành động độc ác. Lão đàn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toà án huyện. Ở đây, anh đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao cảm thông và ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Anh hiểu :không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận mọi hiện tượng của cuộc đời.

Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. 

    Trong tác phẩm nhân vật người đàn bà hàng chài chính là tâm điểm trong câu chuyện của Phùng . Nhân vật này chủ yếu xuất hiện trong phát hiện thứ hai của Phùng về chiếc thuyền chài lưới và xuất hiện trong chính câu chuyện cuộc đời chị kể ở toà án huyện . Cuộc đời , số phận , tính cách , cảnh ngộ của chị gây xúc động , trăn trở mạnh mẽ không chỉ với tác giả mà còn với người đọc . 

    Ấn tượng đầu tiên về người đàn bà là khi chị bước ra từ chiếc thuyền đánh cá đẹp như mơ . Nhưng đối lập với vẻ đẹp mờ ảo được nhìn từ xa , khi lại gần , những nét khắc khổ trong số phận của chi hiện rõ trên dáng vẻ khuôn mặt . Nhà văn không đặt tên cho nhân vật mà chỉ dùng danh từ chung “ người đàn bà hàng chài” như một mẫu số khái quát nên số phận bất hạnh , cực khổ của bao người phụ nữ hàng chài khác trong xã hội . Chị bước ra từ con thuyền , xuất hiện ngay trước mắt nghệ sĩ Phùng với dáng người to lớn , thô kệch , mặt rỗ , khuôn mặt tái nhợt sau một đem thức trắng kéo lưới , dáng vẻ mệt mỏi . Chị lặng lẽ để cho chồng đánh : lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy, dùng cái thắt lưng quật tới tấp lên lưng người đàn bà , lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng ngiến vào nhau ken két .Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn “ Mày chết đi cho ông nhờ .Chúng mày chết đi cho ông nhờ” . “ Người đàn bà có vẻ cam chịu nhẫn nhục không hề kêu một tiếng ,không chống trả ,cũng không tìm cách trốn chạy . Bạo lực trong gia đình thuyền chài ấy diễn ra thường xuyên “ Ba ngày một trận nhẹ ,năm ngày một trận nặng”. Rồi thằng Phác , thằng con trai mà chị yêu quý nhất lao vào bố khiến tim chị đau nhói , xấu hổ , thương con , lo lắng , sợ hãi con trai có thể làm điều gì dại dột với bố . Nước mắt chị tràn ra , thấm vào những nốt rỗ chằng chịt trên mặt . Chỉ bằng vài chi tiết chọn lọc , nhà văn đã gợi ra bao điều đau xót về bi kịch cuộc đời của một người phụ nữ cực khổ , lam lũ , bất hạnh . 

    Số phận , cuộc đời chị dần dần hiện ra rõ nét khi chị đến toà án huyện theo yêu cầu của chánh án Đẩu , bạn chiến đấu cũ của nghệ sĩ Phùng sau khi anh can ngăn bạo lực trong gia đình chị và bị lão chồng vũ phu của chị đánh bị thương . Ban đầu khi đến toà án , chị rất sợ sệt , khép nép , một điều quý toà , hai điều quý toà , xưng con , chỉ dám ngồi mon men ở mép ghế . Khi nhận được lời khuyên “ chị không sống nổi với người chồng vũ phu ấy đâu” của chánh án , người đàn bà ra sức van xin “ quý toà bắt tội con cũng được , bỏ tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó” . Lời van xin ấy chứa đựng bao éo le mà người ngoài cuộc đều ngạc nhiên , không hiểu được . Khi chánh án Đẩu nghiêm giọng , nói rõ chủ trương của toà , chị bỗng thay đổi hẳn thái độ ,xưng chị với Phùng và Đẩu . Chị kể lại câu chuyện cuộc đời mình như lời giải thích cho việc chị phải chấp nhận một người chồng vũ phu mà không thể bỏ . 

    Câu chuyện bắt đầu từ việc chị lấy chồng. Chị vốn mặt rỗ , xấu gái , may được người thanh niên đánh cá thương và lấy làm vợ . Khi ấy hắn là anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm , không bao giờ đánh đập chị . Cuộc sống trở nên khó khăn trong những ngày biển động . Vợ chồng con cái cả tháng liền toàn ăn xương rồng luộc chấm muối . Thuyền thì nhỏ mà con thì nhiều , nhà nào cũng cũng gần chục đứa . Đàn ông trên thuyền nếu không uống rượu thì đánh vợ mỗi khi khổ quá . Chị khẳng định bao nỗi vất vả , cực khổ nếu trên thuyền không có đàn ông , đặc biẹt là khi biển nổi giông bão . Trên thuyền bắt buộc phải có người đàn ông chèo lái , làm chỗ dựa và cùng nuôi nấng một đàn con đông đúc . Chị tâm sự rằng trên thuyền cũng có nhiều lúc vui, vui nhất là vợ chồng sống hoà thuận , nhìn đàn con được ăn no . Chị khẳng định , đàn bà trên thuyền phải sống cho con chứ không sống cho mình . 

    Những lời giãi bày chân thực trên là câu chuyện xúc động, éo le về cuộc đời người đàn bà hàng chài. Câu chuyện đó đã đưa ra những lí do sâu sắc mà chị không thể nghe theo lời khuyên giản đơn của chánh án Đẩu mà bỏ chồng . Cách xử sự của chị là không thể khác . Bởi , nếu bỏ chồng , chị không thể một mình nuôi nấng đàn con chị vô cùng thương yêu. Một mình người đàn bà không thể chèo lái con thuyền trên biển khơi rộng lớn . Giọng văn sâu lắng của tác phẩm bộc lộ xót thương trước hoàn cảnh thân phận của người đàn bà và thái độ trân trọng của nhà văn trước tình yêu thương , đức hi sinh , lòng vị tha cao cả của chị . ở chị , dù cái nghèo khổ có lấn át đến đâu , chị vẫn toả sáng vẻ đẹp cao thượng của người phụ nữ Việt Nam . 

Đồng thời, qua câu chuyện , nguyên nhân của nạn bạo hành gia đình được bộc lộ rõ . Nạn bạo hành gia đình có nguồn gốc từ chính sự nghèo khổ , từ nhận thức hạn hẹp của người dân về xã hội . Câu chuyện ấy đưa ra bài học nhân sinh sâu sắc : không nên nhìn đời và giải quyết mội việc một cách đơn giản phiến diện mà cần phải có cái nhìn đa chiều , thấu hiểu mọi góc khuất của cuộc sống . Qua đó ta hiểu được cái nhìn đầy trăn trở của nhà văn về đời sống nhân dân sau chién tranh. Kẻ thù của nhân dân là sự đói nghèo, tối tăm, lạc hậu về văn hoá, sự tha hoá về nhân cách . 


III . Kết bài 

    Truyện Chiếc thuyền ngoài xa qua những phát hiện của Phùng thân phận cay đắng , đầy bi kịch , nghèo khổ của người đàn bà hàng chài, đã bộc lộ những lo lắng , trăn trở của nhà văn về nhân cách đời sống con người, bộc lộ lòng thương cảm, trắc ẩn, trân trọng những vẻ đẹp trong tâm hồn người dân lao động. Truyện đậm chất tự sự, triết lý, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu . 

(Sưu tầm)

Hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa được cảm nhận qua con mắt người nghệ sĩ như thế nào?


Bài viết liên quan
+++++++++++

Hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa được cảm nhận qua con mắt người nghệ sĩ như thế nào?

Hình ảnh "Chiếc thuyền ngoài xa" được nhà văn khắc hoạ rất ấn tượng: Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ.

Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong gần tâm hồn.


Sự thay đổi cách nhìn người nghệ sĩ khi chứng kiến nghịch cảch:

Sau khoảnh khắc trời cho ấy, Phùng rơi vào một khoảnh khắc, một tình huống “hiện thực cuộc sống” ban cho.Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây dựng cho cuộc sống này người yêu người, sống để yêu nhau (Tố Hữu).

Điều bất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình.

Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”.

Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó...”. Hoá ra, người cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”.

Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu nơi gió bão.


Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu sinh. Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản : người đàn ông kia dù cục súc nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây quần trong bữa ăn trên chiếc thuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả.

Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến.

Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái nhìn đa diện về số phận con người.
Nguồn: Sưu tầm

Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu thể hiện phong cách tự sự triết lý về cuộc đời như thế nào?



Bài viết liên quan
+++++++++++
Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu thể hiện phong cách tự sự triết lý về cuộc đời như thế nào?

Chiếc thuyền ngoài xa mang lại vẻ đẹp hoàn mỹ cho một tấm ảnh, còn chiếc thuyền khi đến gần lại làm vỡ ra một hiện thực nghiệt ngã đến xót xa của số phận con người. Vậy nên, có thể nói hình tượng "Chiếc thuyền ngoài xa" đích thực là một ẩn dụ nghệ thuật hoàn toàn có dụng ý của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Giải mã hình tượng ẩn dụ đó, người đọc sẽ nhận ra một thông điệp mà nhà văn truyền đi, rằng : “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời”. (Lê Ngọc Chương) - Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu)

Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.


Nguồn: Sưu tầm.

Đặc điểm lời người kể chuyện trong tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa"



ĐẶC ĐIỂM LỜI NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
(Xét từ góc độ phong cách học)

Bài viết liên quan
+++++++++++

A/Mở đầu:

Trong thời kì văn học sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu (1930- 1989) không phải là nhà văn đổi mới đầu tiên nhưng lại là một trong “những nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất”. Hướng đổi mới trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thể hiện rõ rệt trên tất cả các phương diện. Về nội dung, Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm của mình đã nới rộng phạm vi hiện thực, bổ sung vào hiện thực quen biết những mảng còn chưa được nói đến hoặc còn né tránh trong văn học thời kì trước đó. Chẳng hạn như tính chất bi kịch và mặt trái của chiến tranh đối với số phận con người, phát hiện về cuộc sống với biết bao nghịch lí, biết bao ngẫu nhiên bất ngờ, những phức tạp, bí ẩn của con người trong cuộc sống thường nhật… Về nghệ thuật, tính đơn giọng, độc thoại đã bị phá vỡ, thay vào đó là tính đa thanh, đối thoại. Lời người kể chuyện dù khách quan hay chủ quan đều không phải là cái nhìn thuần nhất. Tính trữ tình- triết luận của lời kể gắn với kiểu nhân vật tự ý thức…

Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu, thể hiện rõ nét những đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 nói chung và của Nguyễn Minh Châu nói riêng. Tác phẩm là những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về nghệ thuật và con người. Góp phần đưa thông điệp của nhà văn đến với độc giả một cách tự nhiên, bên cạnh việc tạo dựng tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống thì đặc điểm lời người kể chuyện được quy định bởi ngôi kể, điểm nhìn cũng có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, việc tìm hiểu đặc điểm lời người kể chuyện trong tác phẩm này ở các tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy ở trường THPT còn sơ lược. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn có thể vận dụng vào công việc giảng dạy của bản thân sau này.

B/Nội dung:

I/Những vấn đề lí thuyết về lời nói nghệ thuật

1.Phong cách học và phong cách học lời nói


Phong cách trong phạm vi ngôn ngữ học theo nghĩa phổ biến nhất chính là đặc trưng của sự lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Như vậy, khái niệm phong cách bao hàm trong nó cả phong cách ngôn ngữ và phong cách lời nói. Khái niệm “phong cách” của phong cách học cũng không hoàn toàn biệt với khái niệm phong cách của nghiên cứu văn học mà có mối liên quan nhất định. Nó bao hàm vấn đề đặc trưng của sự lựa chọn, tổ chức hình thức ngôn từ của văn bản nghệ thuật

“Phong cách học là khoa học nghiên cứu đặc trưng phong cách của hệ thống các phương tiện ngôn từ và giá trị của các kiểu lựa chọn, kết hợp những phương tiện này trong các hoàn cảnh giao tiếp nhất định” (4, 401)

Phong cách học lời nói là một phạm trù quan trọng của phong cách học. Theo PGS. TS Nguyễn Thái Hòa, “phong cách lời nói là phong cách học lấy lời nói làm đối tượng nghiên cứu của mình, trong đó kể cả các văn bản và văn bản nghệ thuật” (2, 184). Là một bộ phận của phong cách học, phong cách học lời nói không chỉ nghiên cứu lời nói- ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp hàng ngày mà còn nghiên cứu ngôn ngữ viết trong văn bản nói chung, văn bản nghệ thuật nói riêng trong tính đối thoại của nó.

2.Lời nói nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật

Theo TS Nguyễn Thị Ngân Hoa trong cuốn Nhập môn ngôn ngữ học thì: “Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương . Trong một tác phẩm văn học cụ thể, ngôn ngữ nghệ thuật được tổ chức theo mục đích thẩm mĩ của chủ thể, xuất hiện trong những hình thức cấu trúc riêng biệt, cụ thể. Ngôn ngữ được vận dụng trong tác phẩm có tính cá thể hóa cao độ, bao gồm nhiều thành phần, kiểu, dạng phụ thuộc vào các nhân tố: chủ thể, người kể, nhân vật, điểm nhìn, giọng điệu….Vì vậy, khi đề cập đến các thành phần trong cấu trúc ngôn ngữ của một văn bản cụ thể, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, thi pháp học sử dụng khái niệm “lời nói”: lời người kể, lời nhân vật, lời đối thoại, lời độc thoại, lời trực tiếp, lời gián tiếp, lời nửa trực tiếp…” (4, 406-407).

3.Các thành phần của lời nói nghệ thuật trong văn xuôi tự sự; đặc điểm lời người kể chuyện:

3.1.Các kiểu và các dạng thức của lời nói nghệ thuật được phân loại chủ yếu theo hai tiêu chí: kết cấu và chức năng. Theo tiêu chí chức năng, lời nói nghệ thuật trong văn xuôi tự sự bao gồm: lời người kể chuyện, lời nhân vật và các kiểu lời trung gian

3.2.Lời người kể chuyện, xét về chức năng tổ chức cốt truyện “là nhân tố cơ bản có chức năng liên kết toàn bộ các kiểu lời nói, các cấu trúc lời nói khác nhau trong tác phẩm” (1, 192), tạo nên quá trình hình thành và phát triển của cốt truyện, đảm bảo cho các biến cố trong tác phẩm diễn ra. Qua đó bộc lộ quan điểm, cách đánh giá của nhà văn về con người và hiện thực được nói tới. Do đó lời kể luôn xuất phát từ những điểm nhìn nhất định, gắn với vấn đề vai kể, giọng kể… Trong văn xuôi tự sự điểm nhìn có khi được di chuyển, vai kể, giọng kể cũng không thuần nhất.

Xét về chức năng xây dựng hình tượng, có thể phân loại lời người kể thành lời kể/ lời trần thuật, lời miêu tả, lời trữ tình (lời bình luận trực tiếp).

Lời người kể chuyện nếu không nhất trí với khuynh hướng yêu ghét của tác phẩm, tạo thành người tràn thuật không đáng tin cậy. Ngược lại, nếu lời của người trần thuật nhất trí với nhân vật, với tác giả hàm ẩn trong tác phẩm thì người trân thật là đáng tin cậy.

4.Mối quan hệ giữa các thành phần của lời nói nghệ thuật với điểm nhìn, giọng điệu trong văn xuôi tự sự:

Các thành phần của lời nói nghệ thuật lien quan mật thiết đến điểm nhìn, giọng điệu, là cơ sở để nhận diện điểm nhìn, giọng điêu. Ngược lại, chính cách lựa chon điểm nhìn và ý đồ thể hiện giọng điệu đã quy định cấu trúc lời nói nghệ thuật trong tác phẩm.

II/Đặc điểm lời người kể chuyện trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.

1.Người kể, vai kể


Trong Chiếc thuyền ngoài xa người kể chuyện thuộc ngôi thứ nhất-xưng tôi, đồng thời là nhân vật chính của truyện. Người kể chuyện xuất hiện với tư cách một nghệ sĩ nhiếp ảnh, ngoài ra còn với tư cách “một người lính giải phóng từng mười năm cầm súng”.

Với tư cách người nghệ si nhiếp ảnh, người kể chuyện đã kể lại câu chuyện về chuyến đi công tác của mình: Được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp ảnh bổ sung vào bộ lịch một cảnh biển buổi sáng có sương, anh đã đến một vùng biển miền Trung, nơi phong cảnh thật là thơ mộng, còn sương mù vào tháng bảy. Tại đây, sau nhiều ngày phục kích, anh ngẫu nhiên gặp được một cảnh trời cho: “ …trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh của một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Trước vẻ đẹp ấy người nghệ sĩ “trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Trong khoảnh khắc đó, anh “tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nhưng ngay sau cái “khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh đem lại” anh đã chứng kiến một cảnh hoàn toàn đối lập với vẻ đẹp của chiếc thuyền khi còn ở ngoài xa. Bước ra từ chính chiếc thuyền ấy là hai người, một đàn ông và một đàn bà. Sau khi đi đến chiếc xe rà phá mìn trên bãi cát, người đàn ông “trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống, lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: Chúng mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.Còn người đàn bà nhẫn nhục cam chịu, không hề kêu một tiếng, cũng không tìm cách trốn chạy. Tất cả mọi việc khiến “tôi kinh ngạc đến mức trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”. Tiếp sau đó là cảnh đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh bố. Lão đàn ông ‘dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Người đàn bà sau khi có những cử chỉ như van xin đứa con cũng đuổi theo gã đàn ông, trở lại thuyền. Phía sau họ, “tôi và thằng bé đứng trơ giữa bãi xe tăng hỏng” với ánh mắt ngơ ngác. “Như trong câu chuyện cổ tích đầy quái đản, chiếc thuyền lưới vó đã biến mất”.

Lần thứ hai chứng kiến cảnh gã chồng vũ phu hành hạ người đàn bà, dường như bản chất người lính từng chiến đấu vì chính nghĩa đã khiến anh không thể làm ngơ, không thể đứng ngoài với thái độ bàng quan trước những hành động phi nhân tính, người kể chuyện đã xông vào can thiệp: “tôi nện hắn (…) bằng bàn tay rắn chắc của người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng”.

Khi ở tòa án, người kể chuyện tiếp tục bị bất ngờ bởi những nghịch lí: người đàn bà chấp nhận chịu đựng những trận đòn man rợ chứ nhất định không chiu bỏ gã chồng vũ phu: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Câu nói của người đàn bà khiến người kể chuyện “cảm thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá”.Có lẽ với cái nhìn vốn chỉ quen nhìn thấy những nét thơ mộng của cuộc sống, người nghệ sĩ đã không thể hiểu và không thể chấp nhận được cách xử sự kì lạ của người đàn bà. Sự đơn giản trong cái nhìn của “tôi” còn thể hiện qua việc anh hỏi người đàn bà: “Lão ta hồi trước bảy nhăm có đi lính ngụy không?” để tìm nguyên do của những hành động dã man của gã chồng vũ phu.

Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà do chính chị ta kể ở tòa án mà người kể chuyện vừa là người chứng kiến (và kể lại) vừa là người trực tiếp tham gia vào cuộc đối thoại với chị ta đã dần dần cho anh câu trả lời về những điều nghịch lí mà anh đã chứng kiến. Lão chồng vốn là “một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm” nhưng đã trở nên độc ác là vì khổ quá. Còn người đàn bà lạy van những người đại diện công lí “đừng bắt con bỏ nó” là vì: “…đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dười chục đứa. Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như trên đất được”.Câu nói giản di, chân chất của người đàn bà đã có tác động sâu xa tới nhận thức của chánh án Đẩu và cũng là nhận thức của người kể chuyện: “một cái gì vừa vỡ ra trong đầu vị bao công của cái phố huyện vùng biển” thật ra cũng là “một cái gì vừa vỡ ra trong đầu” người nghệ sĩ. Trước đó người kể chuyện “tin là nếu chiếc Prati-ca trung thành với tôi thì phen này tôi có thể đánh ngã bất kì một bức ảnh mô tả phong cảnh biển nên thơ nào từ trước”- tức là hoàn toàn tin vào sự cảm nhận của mình về vẻ đẹp của cuộc sống. Nhưng sau khi chứng kiến tất cả những gì liên quan đến chiếc thuyền ngoài xa ấy, sau khi nghe xong câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện, anh không còn giữ cái nhìn ban đầu. Hôm đó anh đã xách máy ảnh đi lang thang trên bãi biển đến khuya và sau này, mỗi khi nhìn lại bức ảnh, anh luôn có cảm giác: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vần thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông…”

Như vậy, trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, vai kể chính là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Người kể không chỉ kể lại những điều mắt thấy tai nghe mà còn bày tỏ những cảm xúc chủ quan, những suy nghiệm về nghệ thuật, về con người và cuộc sống con người, về mối quan hệ giữa cuộc sống và nghệ thuật. Trong truyện, vai kể có khi được chuyển sang nhân vật khác (người đàn bà) và đi cùng với nó là sự thay đổi điểm nhìn. Tất nhiên vai trò chính vẫn thuộc về người kể chuyện xưng tôi nói trên vì lời kể của nhân vật người đàn bà nằm trong lời kể của người kể chuyện. Sự lựa chon vai kể, điểm nhìn như trên nằm trong dụng ý nghệ thuật của nhà văn.

2.Đặc điểm, tính chất lời người kể chuyện

2.1.Tính chủ quan- chân thực

Việc chọn vai kể ngôi thứ nhất, người kể tự kể lại câu chuyện của mình trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã mang lại tính chủ quan- chân thực cho lời kể.

Tính chủ quan- chân thực trước hết bộc lộ trong việc tả thiên nhiên. Là nghệ sĩ cho nên người kể chuyện có khả năng phát hiện, cảm nhận những phương diện nên thơ của cảnh vật thiên nhiên. Đây là vẻ đẹp của vùng phá nước: “Vùng phá nước có một cái gì đấy thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn anh. Tôi trở nên ngây ngất vào buổi sang, bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà được một sắc giữa xanh và xám, bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng lại; giữa trời và nước ấy chỉ có một chiếc thuyền của một gia đình làm nghề vó bè đang tỏa khói bếp giữa phá- chiếc thuyền đứng im như làm bằng các tông dán vào cảnh vật êm ả”. Và đây là vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa: “ trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh của một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”.

Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh để miêu tả cũng thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm của một nghệ sĩ.

Tính chủ quan- chân thực thể hiện rõ nhất trong việc miêu tả tâm lí. Cũng như các nhân vật nghệ sĩ trong những tác phẩm khác của Nguyễn Minh Châu, người kể chuyện- nghệ sĩ Phùng tỏ ra là người có đời sống nội tâm phong phú Những trạng thái tâm lí của người kể chuyện hết sức đa dạng. Trước hết đó là sự rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên được bộc lộ trực tiếp ngay khi miêu tả đối tượng: “Vùng phá nước có một cái gì đấy thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn anh. Tôi trở nên ngây ngất vào buổi sang, bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà được một sắc giữa xanh và xám, bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng lại” hoặc khi kể lại những khoảnh khắc đứng trước vẻ thơ mộng của ngoại cảnh:

“Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh đắt trời cho như vậy (…) đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”

Có khi là nỗi xót xa trước cuộc sống của những người dân chài thấm đẫm trong giọng kể: “Thường thường mỗi thuyền là một gia đình, ngoài thuyền lớn còn vài chiếc mủng để đi lại. Cuộc sống cứ lênh đênh kắp cả một vùng phá nước mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết ở vào một khoảng đất nào”

Khi kể lại những việc được chứng kiến, người kể chuyện luôn bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình một cách chân thành và thường bộc lộ trực tiếp bằng những từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí: “tôi kinh ngạc đến mức trong mấy phút cứ đứng há mồm ra mà nhìn”, “tôi cảm thấy (…) ngột ngạt quá”.

Tính chủ quan- chân thực còn được thể hiện qua tính hướng nội của lời kể: Trong lời kể thường có những từ ngữ miêu tả trực tiếp các hành vi bên trong, các ý nghĩ, cảm xúc, cảm giác của nhân vật: tôi trở nên bối rối…, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy…, tôi chắc mẩm…, tôi kinh ngạc…, tôi cảm thấy…, tôi mới sực nghĩ ra…,v.v…

Còn khi diễn tả những gì không thể trực tiếp quan sát được người kể chuyện thường dùng những từ ngữ có tính chất phỏng đoán:

“khuôn mặt (…) dường như đang buồn ngủ”, “có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết”, “người đàn bà dường như lúc này mới thấy đau đớn”, “hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài”.v.v…

Có thể thấy tính chủ quan- chân thực của là một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn này. Bởi các sự kiện trong truyện được kể lại từ chính điểm nhìn chủ quan của người kể, những cảm xúc, suy tư trước cảnh vật thiên nhiên, cuộc sống con người được chính người kể bộc lộ.

2.2.Tính khách quan- đáng tin

Trong Chiếc thuyền ngoài xa, vai kể ngôi thứ nhất đem lại tính chủ quan- chân thực cho lời kể như đã nói ở trên. Song điều đó có thể làm cho câu chuyện thiếu tính khách quan, và vì vậy sức thuyết phục của những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm có thể bị giảm sút. Những hạn chế trên đã được khắc phục bằng một số thủ pháp:

Thứ nhất là chuyển vai kể và điểm nhìn nhưng vẫn không làm mất đi vai trò của vai kể chính. Việc chuyển vai kể làm tăng tính khách quan cho câu chuyện: Cách ứng xử kì lạ của người đàn bà khiến người kể chuyện từ kinh ngạc đến phẫn nộ và không hiểu nổi. Nguyên do đã được lí giải bằng chính lời kể của người đàn bà về cuộc đời mình. Lời kể của nhân vật này không chỉ giải thích cho cách ứng xử kì lạ của chị ta mà còn giúp người nghe hiểu được phần nào nguyên nhân của thói vũ phu ở người đàn ông đó. Lời kể ấy giúp cho Phùng, Đẩu và cả chúng ta nhận ra cuộc đời người đàn bà này không hề đơn giản, suy nghĩ của chị ta không phải là “cái sự lạc hậu” như chị ta nói mà là của một người “thấu hiểu các lẽ đời”. Lời kể ấy còn khiến ta cảm động trước lòng vị tha, đức hi sinh của người đàn bà khốn khổ. Điều quan trọng hơn nữa là nó mang lại ấn tượng về tính khách quan cho câu chuyện, bởi đây là lời của nhân vật tự kể về cuộc đời mình, tự nói lên những suy nghĩ của mình.

Thứ hai là đưa vào lời người kể chuyện những đánh giá, những cách nhìn nhận khác nhau về cùng một vấn đề. Chẳng hạn, về hành động của người đàn ông, người kể chuyện cho đó là hành động tàn nhẫn, anh đã nghĩ có thể lão ta độc ác là do đi lính ngụy. Thằng bé Phác cũng căm phẫn hành động của cha và nó đã bảo vệ mẹ bằng cách đánh chính người cha của mình. Cô y tá ở trạm xá thì “kể lể bằng tất cả giọng phẫn nộ thói tàn nhẫn của dân đàn ông đánh các trong vùng này- do phong tục để lại”. Còn người đàn bà thường xuyên bị chồng đánh đập lại cho rằng chồng mình trở nên độc ác như vậy là vì hoàn cảnh. Chị xác nhận: “ Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Qua những cách nhìn khác nhau ấy về người đàn ông, người đọc nhận thấy không thể nhìn nhận, đánh giá một con người một cách đơn giản, một chiều mà cần phải tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa đẫn đến những hành vi của con người trước khi kết luận về tính cách hay phán xét họ. Người đàn ông ấy vừa đáng bị lên án bởi tính vũ phu, tính ích kỉ nhưng anh ta cũng có chỗ đáng được cảm thông, chia sẻ, bởi xét đến cùng, anh ta cũng chỉ là một nạn nhân của hoàn cảnh sống quá khắc nghiệt.

Thật ra tất cả những cái nhìn khác nhau của các nhân vật đều là sự khúc xạ cái nhìn của tác giả. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu lại chọn người kể chuyện là một nghệ sĩ đã từng là người lính. Từ điểm nhìn của một người lính đã từng chiến đấu bảo vệ mảnh đất này, lời kể gợi ra một cuộc chiến đấu mới không kém phần gay go, gian khổ so với cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Đó là cuộc chiến đấu bảo vệ nhân tính, vẻ đẹp tâm hồn của con người trong cuộc sống hòa bình.

Đưa vào trong lời kể chuyện những cách nhìn khác nhau, cái nhìn chủ quan của vai kể đã được khách quan hóa, tạo ra tính đối thoại, thể hiện khuynh hướng dân chủ hóa của văn học. Nhà văn không áp đặt thông điệp của mình cho người đọc mà bằng cách để cho vấn đề hiện lên một cách đa chiều, phức tạp buộc người đọc phải vào cuộc để cùng tìm câu trả lời với tác giả.

2.3.Tính trữ tình- triết luận

Lời kể hay tả trong lời người kể chuyện đều thấm đượm chất trữ tình.

Chất trữ tình thể hiện rất rõ trong lời tả thiên nhiên. Những đoạn văn miêu tả vẻ đẹp của vùng phá nước, của chiếc thuyền ngoài xa là sự phát hiện chất thơ trong những cái tưởng như bình thường, quen thuộc, khơi dậy ở con người “những khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”.

Lời kể tái hiện sự việc, con người song việc tái hiện ấy nhằm hướng tới những tâm trạng, cảm xúc, chiêm nghiệm: những phát hiện về cuộc sống với bao nghịch lí dẫn đến sự thay đổi suy nghĩ, cách nhìn về cuộc sống của Phùng.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu nói chung, trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa nói riêng chất trữ tình gắn với tính triết luận.

Tính triết luận có khi thể hiện qua những suy ngẫm có tính chất triết lí được rút ra sau một sự việc nào đó. Chẳng hạn, sau khi buộc phải đi cảnh biển có sương theo yêu cầu của trưởng phòng, Phùng suy nghĩ về vai trò của hoàn cảnh: “Ở đời cái gì cũng thế, con gnười bản tính vốn lười biếng, đôi khi mình hãy cứ để cho mình rơi vào hoàn cảnh bị ép buộc phải làm, không khéo lại làm được một cái gì”. Sau khi ngẫu nhiên chụp được một cảnh đắt trời cho, Phùng “nghĩ rằng với những tay nhiếp ảnh nghệ thuật nếu không thêm sự sắp đặt đầy tài tình của ngẫu nhiên thì với tài ba bao nhiêu, anh cũng chỉ thu được những tấm ảnh …vô hồn”. Suy nghĩ ấy chứa đựng triết lí về mối quan hệ giữa tài năng và ngẫu nhiên. Anh còn suy ngẫm về bản chất của cái đẹp: “Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức?”. Rõ ràng lời kể thuật lại những suy ngẫm có tính cá nhân nhưng những suy ngẫm ấy đã vượt qua giới hạn của những hiện tượng cá biệt, vươn tới tầm khái quát.

Tính triết luận còn thể hiện qua những hình ảnh mang tính biểu tuợng: “Chiếc thuyền ngoài xa” với vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích” không chỉ là một hình ảnh cụ thể mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp của cuộc sống khi người nghệ sĩ tiếp cận nó ở cự li, khoảng cách “xa”- xa ở đây không đơn thuần về mặt không gian, địa lí. Tất cả những nghịch lí mà Phùng chứng kiến đều có liên quan đến chiếc thuyền ngoài xa ấy là một trong muôn vàn những cảnh ngộ éo le có thể gặp trong cuộc sống đời thường. Nhưng nó còn là biểu tượng cho những phương diện khuất lấp, phức tạp của cuộc sống mà với cái nhìn hời hợt, đơn giản, người nghệ sĩ khó có thể phát hiện ra. Hình ảnh cuối truyện: “…tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông…” là ấn tượng chủ quan của người kể chuyện. Ấn tượng ấy là sự khúc xạ “những điều trông thấy” của người kể chuyện. Nó gợi ra cái nhìn mà người nghệ sĩ chân chính cần phải có: bằng vốn sống, sự trải nghiệm, người nghệ sĩ cần nhận ra không chỉ những gì thuộc bề mặt mà cần thấu suốt bề sâu của cuộc sống vốn nhiều bộn bề, phức tạp.

C/ Kết luận:

Như vậy việc lựa chọn người kể vai kể trong truyên ngắn Chiếc thuyền ngoài xa nằm trong dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Với việc chọn vai kể ngôi thứ nhất- một nghệ sĩ nhiếp ảnh tự kể chuyện mình- nhưng trong quá trình kể có sự dịch chuyển vai kể và điểm nhìn, lời người kể chuyện trong tác phẩm vừa mang tính chủ quan- chân thực vừa mang tính khách quan- đáng tin đồng thời có tính trữ tình- triết luận. Những đặc điểm trên tạo nên giọng điệu vừa triết lí suy tư, vừa trữ tình sâu lắng, phù hợp với nội dung tư tưởng của tác phẩm. Đó là những suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhà văn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống về cuộc đời, về con người: nghệ thuật chân chính phải luôn gắn với cuộc đời và vì cuộc đời; cần phải nhìn con người và cuộc sống một cách đa diện nhiều chiều thì mới có thể tránh được cái nhìn ấu trĩ, giản đơn. Có thể nói, đặc điểm lời người kể chuyện đã góp phần đưa thông điệp của nhà văn đến với người đọc một cách tự nhiên mà thấm thía. Đồng thời nó tạo nên phong cách ngôn ngữ riêng của nhà văn.

(Hoàng Thúy Hằng CHK18 - Lí luận ngôn ngữ)

------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2004, 297 tr
2. Nguyễn Thái Hòa, Từ điển tu từ- phong cách- thi pháp học, nxb Giáo dục, 291 tr
3. Nguyễn Văn Long, Trịnh Thu Tuyết, Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học sư phạm, 2007, 258 tr
4. Nhiều tác giả (Mai Ngọc Chừ chủ biên), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, 2007, 587 tr
5. Nguyễn Minh Châu, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb văn học, 1999, 645 tr
6. Trần Nho Thìn, Phân tích tác phẩm Ngữ văn 12, Nxb Giáo dục, 2008, 216 tr
7. Trần Đình Sử, Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, 2006, 226 tr
8. Lưu Thị Lan Phương, Đặc trưng phong cách cấu trúc lời nói nghệ thuật trong Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Luận án thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2007, 138 tr

(Sưu tầm)

Popular Posts